GIẢI PHẪU-SINH LÝ ĐƯỜNG DẪN MẬT

 GIẢI PHẪU-SINH LÝ ĐƯỜNG DẪN MẬT

Bạn đọc có thể trong trên web sách lật https://fliphtml5.com/

    Gồm ống gan, ống mật chủ, ống túi mật và túi mật. Ống gan và ống mật chủ gọi là đường mật chính không cắt bỏ được còn ống túi mật và túi mật là đường mật phụ có thể cắt bỏ được.

I.ỐNG GAN (phần cuối của đường dẫn mật trong gan)

   -Mật tiết từ tế bào gan đổ vào các tiểu quản mật trong gan. Sau đó mật sẽ đổ vào ống gan phải và ống gan trái ở ngoài gan.

   -Hai ông gan phải và trái hợp lại thành ống gan chung chạy trong cuống gan để dẫn mật trong gan ra ngoài. Ống gan chung dài 3 cm, đường kính 5mm khi tới bờ trên tá tràng cùng ống túi mật đổ vào ống mật chủ.

II.ỐNG MẬT CHỦ


   -Ống mật chủ đi từ bờ trên và sau tá tràng rồi lách sau tụy dể đổ vào nhú tá lớn (nhú tá chính) ở niêm mạc đoạn xuống tá tràng.

   -Ống mật chủ dài 5-6 cm và đường kính trung bình 5-6 mm, nơi hẹp nhất ở bóng gan tụy có đường kính 3 mm.

 

 

Các cách đổ vào của ống mật chủ:

   (A)Ống mật chủ cùng với ống tụy chính hợp nhau đổ vào bóng Valter (bóng gan tụy) (50% trường hợp). Nơi đây có cơ thắt vòng Oddi (cơ bóng gan tụy) trước khi đổ vào tá tràng.

   (B)Khi không có bóng gan tụy, ống mật chủ và ống tụy chính có thể đổ chung vào tá tràng bằng một lỗ.


   (C)Không có bóng gan tụy: ống mật chủ và ống tụy chính đổ vào qua tá tràng qua hai lỗ riêng biệt .

Người ta chia ống mật chủ làm bốn đoạn:


   -Đoạn trên tá tràng: dài ~ 2.5 cm, đi dọc theo bờ tự do của mạc nối nhỏ.

   -Đoạn sau tá tràng: ống mật chủ đi ở phía sau phần trên tá tràng.

   -Đoạn sau tụy: ống mật chủ xẻ sau đầu tụy một rãnh và càng xuống dưới càng sâu. Muốn lấy sỏi mật hoặc giun trong ống mật chủ ở đoạn này, phải lật khối tá tụy khỏi mạc dính ở mặt sau mới tránh khỏi rạch vào đầu tụy.

   -Đoạn trong tá tràng: đi theo hướng chếch ngang ở thành đoạn xuống tá tràng, và kết thúc bởi lỗ mở vào nhú tá lớn bằng bóng Vater, được bao quang bởi cơ vòng Oddi.

III.TÚI MẬT

   -Túi mật nằm trong hố túi mật ở mặt tạng của gan nên phần này không được phúc mạc che phủ. Túi mật có hình quả lê, chiều dài khoáng 7,5 - 10 cm, bình thường chứa được 25 -30ml dịch mật .Gồm ba phần cấu trúc trên hẹp dần:

   a.Đáy túi mật nằm trong khuyết túi mật của bờ dưới gan. Nếu chiếu lên thành bụng thì đáy túi mật ở giao điểm giữa bờ sườn phảibờ ngoài cơ thẳng bụng(cơ thẳng lớn) bên phải. Khi túi mật cảng to, ấn ở điểm này, sẽ đau chói (điểm dau Murphy-Điểm túi mật).

   b.Thân túi mật: chạy chếch ra sau lên trên và sang trái. Mặt trên thân dính vào gan và chỉ ngăn cách nhau bởi một lớp tế bào xơ mỏng.

   c.Cổ túi mật: cổ túi mật phình ở giữa thành một bể con (bể Hartmann) nơi sỏi hay đọng lại. Hai dầu cổ túi mật hẹp, đầu trên gấp vào thần, đầu dưới gấp vào ống túi mật. Cổ túi mật nằm cách xa gan và có một mạc treo, có chứa động mạch túi mật.

IV.ỐNG TÚI MẬT.

   Dưới cổ túi mật là ống túi mật dẫn mật từ túi mật xuống ống mật chủ. Ống túi mật dài 3 cm, đường kính 3mm.

V.Mô phôi:

   Gồm 4 lớp:

            +Niêm mạc

            +Dưới niêm mạc

            +Lớp cơ

            +Thanh mạc

   -Các sợi cơ ở thành túi mật được sắp xếp chằng chịt, và phát triển tốt về cổ túi mất. Màng niêm mạc lõm vào lớp cơ, tạo thành những hõm gọi là các hố Luschka.

    Lòng ống túi mật có dường kính từ 1 - 3 mm. Niêm mạc của ống túi mật tạo thành các nếp hình xoắn ốc, gọi là van Heister và thành ống được bao quanh bởi một cấu trúc cơ thắt được gọi là cơ thắt Lutkens.

 

VI.MẠCH MÁU, BẠCH HUYẾT, THẨN KINH

1.Mạch máu :

   -Động mạch túi mật: nhánh của động mạch gan phải, thường bắt đầu phân nhánh ớ phía sau ống gan chung.

  -Tam giác Calot (tam giác gan mật) giới hạn bời :

            +Bờ trên là thành dưới của gan

            +Bên ngoài là túi mật

            +Bên dưới là ống mật chủ.

            +Bờ trong là ống gan chung.

   -Đây là vùng quan trọng trong phẫu thuật bởi vị động mạch túi mật có thế tìm thấy trong ranh giới này, trong phẫu thuật cắt túi mật để tránh làm tổn thương động mạch túi mật và hệ đường mật chính ngoài gan.

   -Tĩnh mạch của đường dẫn mật là TM túi mật dẫn máu về tĩnh mạch cửa.

2.Bạch mạch : Bạch mạch cùa đường dần mật nằm trên đường đi cùa ống mật. Có hai hạch lớn : một ở cổ túi mật và một ở ngã ba nơi ống túi mật dổ vào ống mật chủ.

3.Thần kinh : Thần kinh cho đường mật cùng tách từ dám rối gan và dây thẩn kinh lang thang trái như ở gan.

 

 

VII.SINH LÝ:

   -Mật được sản xuất ở gan và được dự trữ tại túi mật, từ đây giải phóng vào tá tràng. Thành phần của nó khi rời khỏi gan: 97% nước, muối mật ( acid cholic và acid chenodeoxycholic, deoxycholci và lithocholic acid ). Phospholipid, cholesterol và bilirubin.

   -Gan sản xuất mật lượng xầp xỉ 40mL/giờ. Khoảng 95% muối mật được tái hấp thu ờ đoạn cuối hồi tràng (Chu trình gan - ruột).

Chúc năng cùa tủi mật

   -Chức năng thứ 1: là cơ quan dự trữ mật. Khi đói, khán lực tại cơ vòng Oddi cao, và mật được bài tiết từ gan sẽ được đưa đến túi mật. Sau khi ăn, kháng lực cơ vòng Oddi giảm, lúc này túi mật co thắt và mật được đưa vào tá tràng. Các đáp ứng vận động của đường mật một phần bị ảnh hưởng bởi Hơrmon CCK (Cholecystokines).

   -Chức năng thử 2 cùa túi mật là cô đặc mật bởi hoạt động hấp thu chủ động nước, NaCl và HCO3- thông qua màng niêm mạc của túi mật. Mật từ gan sản xuất khi vào túi mật sẽ được cô đặc 5-10 lần. làm gia tăng tỉ lệ muối mật, sắc tố mật, cholesterol và Ca.

   -Chức năng thứ 3 của túi mật là tiết ra chất nhầy, xấp xỉ 20 ml được sản xuất mỗi ngày. Khi bị tắc nghẽn hoàn toàn ống túi mật, trong khi túi mật bình thường, u nhẩy sẽ phát tiến như là kết quả của việc tiết chất nhầy kéo dài của niêm mạc túi mật.

 

---Bài viết còn nhiều thiếu sót mong bạn đọc góp ý thêm---

---Bác sĩ: Lê Canh Tài. Hotline: 0966.591.398---

 


Bác sỹ Tài

Bác sỹ YHCT-SĐT: 0966.591.398

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét