QUẾ NHỤC

NHỤC QUẾ

(Liều dùng 2-5g, xung phục 1-3g/ngày)

Phiên âm

Dịch nghĩa

Nhục quế tân nhiệt
Thiện thông huyết mạch
Phúc thống hư hàn,
Ôn bổ khả đắc

Quế nào mà Quế chẳng cay
Đả thông huyết mạch lại hay tân hàn,
Đau bụng hư lạnh râm ran
Chữa bệnh, ôn bổ, vẹn toàn cả hai

      Quế tốt nhất hiện nay là quan quế của Srilanca. Ở nước ta có quế Thanh Hóa tốt sau quế Srilanca, tuy nhiên đa phần hiện nay là quế Lào Cai, Yên Bái,... kém hơn. Khi dùng gia thêm Ngũ vị, Ngưu tất để liễm cái khí dễ bốc lên trên của nó xuống (đồng thời quy được thận mà ôn chân dương nhiều hơn) và giảm tính háo của vỏ quế àNhưng không dùng nhiều và lâu. Tuy nhiên dùng vẫn có hiện tượng nổi mụn ở vùng trán.

 

   -Nhục quế thượng hạng được nhận biết qua đường vân "bạch chỉ phân du" rõ ràng, phân chia lớp thịt vỏ và lớp tinh dầu bên trong:

          +Phần tinh dầu ánh sắc tím (phần quế tâm) có hỏa tính đầy đủ mà khí của nó nồng hậu nhất, có xu hướng dẫn hỏa quy nguyên. Hỏa tính đầy đủ và sinh hỏa nên khi nhai thì như có 1 dòng dung nham nhỏ hòa nhập trong huyết quản, tôi luyện huyết nhục làm giảm đau đớn trong người và đào trục các loại âm uế ra khỏi cơ thể (ấm toàn thân mà không bị bốc hỏa gây đâu đầu).

          +Phần thịt vỏ bên ngoài lại rất tân và cực háo, làm khô rút tân dịch mạnh, khí hỏa bốc thẳng lên trên, dễ phạm vào tiền đình hoặc các thanh khiếu đặc biệt là mắtà uống vào đỏ mắt, mờ mắt.

I.Khí vị: Thơm, Tân mà Cam, đại nhiệt, hơi có độc, hoàn toàn là dương dược, quy kinh Can Thận.

   -Nhục quế vị tuy ngọt mà khí cay thơm xông bốc, thăng được, giáng được, đi ngang được, ra ngoài được, vào trong được, bổ được, tả được, thông xướng các kinh, cổ vũ khí huyết, nhưng công hiệu tuy nhanh lại thoái cũng nhanh. 

II.Chủ dụng:

   -Cay ôn đại nhiệt, tựa như địa hỏa dung nham, nhập Tâm mà thấm vào huyết (sắc hơi đỏ của lớp tinh dầu).

   -Tính nhuận: dưỡng cho huyết chất. Tính nóng: giúp hỏa trong huyết cường tráng, bổ phần hỏa của huyết (bổ huyết hỏa tốt nhất) --> bổ phần dương hỏa trong Tâm:

            (1)làm huyết vận hành mạnh hơn mà thông huyết mạch, có thể làm tiêu đi cựu tà, giúp cơ thể kháng được ngoại tà (ngọc bình phong tán gia thêm 1 ít nhục quế), bài trừ những thứ nùng mủ mụn nhọt ra ngoài. è vị thuốc chuyên chữa Tâm dương hư.

            (2)Trợ hỏa cho huyết, hỏa đó theo huyết mà ôn ấm hậu thiên (Tỳ, Phế)à dùng trong phế hàn, phế âm, tỳ hư. Theo huyết tàng Can mà trừ được trọc uế trong can nhờ vậy giúp câu tiết được thông lợi, kéo khí huyết ra bì phu, cơ nhục, cân tiết nên trừ được hư hàn lưu đọng hoặc hàn tà phục nhập vào ngũ thể (bì phu, nhục, cân, mạch, cốt) cũng giúp kháng các khí phong hàn trong thời khí rất tốt.

   -“Khí bạc giả, quế chi. Khí hậu giả, quế nhục”:

         +Nhục quế tính trọng hậu (trọng: nặng, hậu: dày à khí nặng và dày à đi vào trong giữ gìn bên trong, thu vào trong, không làm tiết khí của cơ thể dùng cho trường hợp: vệ dương kém, dễ cảm, hay lạnh, sợ lạnh mùa đông chân tay lạnh.

         +Trong khi quế chi “khí bạc”: khí mỏngà giải biểu phát hãn.

   -Hỏa trong cơ thể thuận theo thế giao hòa mà đi xuống, nhục quế tính thuộc hỏa mà bẩm được tính trọng hậu cũng tiện cho thế xuống này. Sức thuốc tuy nhập huyết vào Tâm là chính, nhưng dễ dàng từ Tâm đổ xuống Thận để ôn nguyên dương, nguyên dương mạnh lại có chỗ để dẫn hỏa nên giỏi dẫn hỏa quy nguyên.

   Thêm: Hỏa vốn đặc tính thăng lên, thủy đặc tính giáng xuống đúng ra thì phải tách nhau. Nhưng trong 1 thái cực thì âm dương phải giao hòa, tương hỗ cho nhau   --> tâm hỏa phải rót xuống, thận thủy phải bốc lên giao hòa với. Nhục quế này tính trọng hậu nên đi xuống mà hỏa của tâm cũng xu hướng đi xuống à 2 vị trợ nhau xuống theo trục tâm thận đổ từ Tâm xuống Thận mà ôn được nguyên dương cho Thận, mặt khác nguyên dương trong thận có tính bế tàng lại(thận khí) à nó lại càng kéo hỏa xuống, càng mạnh lại càng kéo mạnhà dẫn hỏa quy nguyên (Quan quế, quế thanh) như trong bài bát vị và giao thái hoàn. Nhục quế lại là hỏa vào âm chất, vào tinh cung thì hỏa hóa cái tinh thành khí, giúp cường tráng tính đàn ông dùng trong liệt dương: nhục quê+ngũ gia bì, sa sinh dục (sán khí).

   -Nhập vào tận Bào cung để ôn hóa hàn lãnh dùng cho chứng bào cung hàn dễ dẫn đến vô sinh, lại nhờ tính nhuận mà nhuận trạch bào cung. Vì tính hỏa của nhục quế tăng sức cho bào cung nên thai phụ lại không được dùng, nhưng rất tốt trong thôi sinh, thúc sinh.

Hợp dụng: (Hải Thượng Lãn Ông-Bộ 5 quyển)

   Vị này dùng hơi có chất độc, nhưng uống với Hoàng cầm, Hoàng liên thời chất độc sẽ hết, nếu uống với vị Ba đậu, Ô phụ hay lá sơn khô thời chất độc thêm lên. Uống với Sâm và Mạch môn, Cam thảo thời bổ khí. Uống với Thục địa thời hòa huyết và chữa chứng thổ nghịch.

Cách chế:

   -Cạo sạch lớp vỏ thịt bên ngoài, có thể tẩm ngũ vị và ngưu tất dùng.

   -Quế kị hỏa, hỏa thì thăng, trong khi quế khí lại trọng hâu, quế thuộc hỏa mà gặp hỏa thì đồng khí nên dễ cự nhau mà tán điè dùng thì tán bột uống. Kỵ hành sống và Xích thạch chi.

Bác sỹ Tài

Bác sỹ YHCT-SĐT: 0966.591.398

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét