KHƯƠNG

 

KHƯƠNG

(Sinh khương tam phiến, đại táo nhị mai-sinh khương 3 lát, đại táo 2 quả)

I.Sinh khương: (8-15g).

Phiên âm

Dịch nghĩa

Sinh khương tính ôn

Thông sướng thần minh

Đàm tấu (tấu) ẩu thổ
Khai vị cực linh.

Tính ôn ấy vị Sinh khương
Thần minh thông sướng mọi đường đều thông.

Chứng ho nôn mửa cảm phong
Ôn trung khai vị thì dùng rất hay.

1.Khí vị: Vị tân, khí ôn đại nhiệt, bẩm thụ dương khí, tính phù mà đưa lên.

             Ghét vị hoàng cầm, hoàng liên, sát độc của vị bán hạ, nam tinh, lương khương và hậu phác. Đi đôi với vị tần tiêu. Giải độc cua cá.

2.Chủ dụng:

   -Tựa như ngọn lửa ban sơ (nguyên hỏa), tính thăng tán mà không thu liễm, thuần chính, không mạnh, nhưng đa dụng, giỏi ở biến hóa đa đoan, dùng cho nhiều chứng tùy cách bào chế.

      (1)Ngọn lửa ban sơ nên tính chủ yếu vào trung tiêu (thổ), ôn được thổ, mà qua đó kiện khí của tỳ (không phải thuốc bổ khí), có thể tiêu được thực tích đàm thấp, tán được chướng uất ở trung tiêu, liễm được trường vị khí mà chỉ tả, lý khí tỉnh tỳ mà ăn ngon miêng. Thánh dược chữa nôn ọe và phiền vị (hoắc loạn thuộc thái âm chứng cũng dùng gừng nướng điều trị).

      (2)Tính cay ôn, thiên về thăng tán, ở vệ có thể giải được phong hàn phạm biểu. Hơn nữa, còn thông khí của tạng tâm, tạng phế, khi đã thông thì tà khí không lấn được, chữa chứng đàm, ngạt mũi, nhức đầu, bì phu khí kết, thông thần minh trừ ác khí. Ở Tỳ có thể trừ được hàn thấp khốn tỳ --> phong hàn phạm vào vệ đều có thể dùng. (uống+đánh gió bằng gừng: đặc biệt trong chứng hàn tà phạm cả vào phần thái dương, thái âm).

      (3)Trong tý chứng, dùng sinh khương giã nát đắp ngoài hoặc cứu cách gừng.

            -Buổi sáng sớm nên ngậm 1 miếng gừng để tránh được các tà khí của sương mù và lam chướng.

            -Để cả vỏ thì phát tan, ra phần biểu mà trừ nhiệt mà gọt vỏ đi thì nhiệt vẫn giữ lại ở trong.

  -Khương bì (vỏ sinh khương): tiêu phù nề và chướng nề.

II.Ổi khương:

   -Sinh khương gói lá chuối, hoặc các loại lá, giấy ướt mà nướng. Mục đích vừa nướng vừa hấp, để giữ được nước --> mất tính thăng tán mà vẫn còn tính tẩu. Lành hơn không gây táo trong trường vị như can khương, bào khương (gây táo và hại âm chất trường vị).

   -Chuyên trừ hàn thấp trong vị: vì bọc nướng nên ôn khí đã được hãm vào trong, trở thành hãm hạ-->trọng về phương hương hóa thấp tỉnh tỳ, kiện vị là chính, chủ tiêu thực tích, đặc biệt là các thứ thịt sữa có thấp khí nhiều, đồ lạnh sống, giảm khí chỉ ấu, lành cho tỳ vị.

III.Can khương(3-10g)

Phiên âm

Dịch nghĩa

Can khương vị tân

Biểu giải phong hàn

Bào khổ trục lãnh

Hư hàn vưu kham

Gừng khô vị ấy rất cay

Uống vào phần biểu giải ngay phong hàn
Bào khương khí lạnh xua tan
Ví bằng gặp chứng hư hàn càng hay

 

   -Khí vị cay nóng, giữ 1 nơi chứ không chạy. Chủ phá huyết, tiêu đờm.

   -Khí cay nóng, mãnh liệt bạo ngược, không có lợi cho chân âm, hại đến ấm chất tỳ vị nhiều. Chủ thăng và háo-->trừ được hàn thấp khốn ở tỳ và trường vị mạnh, ôn dương hóa đàm ở phế (khác với ổi khương ở điểm này)à chứng phế suyễn, ho lâu ngày (kèm lưỡi vùng phế xuất hiện những nốt trắng có sắc đỏ) thì dùng và kèm các vị chữa phế khác.

   -Phép chế: lấy gừng già rửa sạch, ngâm trong nước vày hôm rồi bỏ vào chõ đồ chín phơi khô.

IV.Bào khương: (2-5g)

   -Can khương sao trong cát, miễn sao cho có màu nâu ngoài da là được-lớp ngoài bị hoả tán đi nên hỏa không còn mạnh như can khương. Đặc tính so với ổi khương thì hung mãnh hơn rất nhiều nhưng không thể bằng can khương (tự khô lại nên hỏa tính tự thu lại ở trong gừng 1 cách trọn vẹn). Không hại âm nhiều bằng can khương.

   -Ôn huyết mạch, sức phá trầm hàn cố lãnh lại không bằng can khương, thiên về huyết mạch, ôn dương kèm chỉ huyết (do có phần ngoài cháy) --> ôn trung tán hàn chỉ huyết--> đi vào tỳ vị là chính nhưng hàn thấp thì nó đi khắp cơ thể.

V.Thán khương (hắc khương):

   -Sao cháy can khương chỉ hơi còn lõià mất tính cay, mất tính tân tán, nhẹ đi, vẫn còn tính ôn, nhưng thiên hẳn về chỉ huyết, dùng trong chứng hư hàn/ hàn trệ mà xuất huyết, hay xuất huyết rỉ rả không ngừng đặc biệt là bào cung, chứng rong huyết.

Cách bào chế khác:

   -Lấy can khương ngâm cho mềm bỏ vào nồi đất thật kín, lấy đất sét bọc kín nắp nồià ủ trong trấu đến khi khô lại:

      +Thành nồi là thán khương

      +Càng vào trong là báo khương.

      +Lớp giữa là tiêu khương: rất chuyên về ôn bào cung, chỉ huyết.

Tóm lại, Thuốc phát tán, nên dùng sinh khương, thuốc tiêu nề nên dùng khương bì, thuốc đi tả nên dùng ổ khương, thuốc chỉ huyết và đem hỏa trở xuống nên dùng hắc khương, mà không cần thật đen thì dùng bào khương.

   -Ngoài Sinh khương vừa đề cập trên thì còn có 1 số loại gừng thường được sử dụng: gừng gió, gừng đen,...

   -So sánh can khương và phụ tử (bài phụ tử):

Bác sỹ Tài

Bác sỹ YHCT-SĐT: 0966.591.398

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét