PHỤ TỬ
(Liều thường dùng cho thuốc thang là 3 -
15g. Nhiều ít là khác nhau rất lớn, tùy thuộc vào nhiều yếu tố)
|
Phiên
âm |
Dịch
nghĩa |
|
Phụ
tử tân nhiệt Tính
tẩu bất thủ Tứ
chi quyết lãnh Hồi
dương công hữu |
Phụ
tử tính nhiệt vị tân Chỉ
đi mà chẳng dừng lại chút nào Tứ
chi lạnh toát sờ vào Hồi
dương cứu nghịch công lao có rồi |
A.Phân loại:
Hán văn:
神农本草经 列为下品,
陶弘景谓: "乌头与附子同根,
附子八月采,
乌头四月采,春时茎初生有脑头,
如乌鸟之头, 故谓之鸟头."
韩保升谓:
"正者为乌头, 两歧者为乌喙,
细长三、四寸者为天雄,
根旁如芋散生者为附子, 旁连生者为侧子,五物同出而异名,苗高二尺许,叶似石龙芮及艾"
Hán Việt:
Thần Nông Bản Thảo Kinh liệt vi hạ phẩm,
Đào Hoằng Cảnh vị:"Ô
đầu dữ Phụ tử đồng căn, Phụ tử bát nguyệt thải, Ô đầu tứ nguyệt
thải, xuân
thì hành sơ sanh hữu não đầu,
như ô điểu chi đầu,
cố vị chi điểu đầu. "Hàn Bảo Thăng vị:
"chánh giả vi Ô đầu, lưỡng kì giả vi Ô uế, tế
trường tam, tứ thốn giả vi Thiên hùng, căn bàng như dụ tán sanh giả vi Phụ tử, bàng
liên sanh giả vi Trắc tử, ngũ vật đồng xuất nhi dị danh, miêu
cao nhị xích hứa, diệp tự thạch long nhuế cập ngải."
Tạm dịch:
Thần Nông Bản Thảo Kinh có đoạn, Đào Hoàng Cảnh nói: "Ô đầu và Phụ tử là từ
cùng một rễ, Phụ tử được khai thác vào tháng Tám, Ô đầu được khai thác vào
tháng Tư, vào mùa xuân nhánh con mọc ra giống như đầu chim quạ." Hàn Bảo
Thăng nói: "Củ cái gọi là Ô đầu, nếu có 2 nhánh con thì gọi là Ô uế, nếu
có 3 nhánh con dài độ 4 lóng tay gọi là Thiên hùng, củ con chia ra làm nhiều
nhánh như củ khoai gọi là Phụ tử, củ con tiếp nối ra thêm nhiều đoạn gọi là Trắc
tử, cả 5 loại tuy cùng 1 rễ nhưng có tên khác nhau, cây cao độ 2 xích, lá tựa
như lá cây ngải cứu."
Như vậy:
-Đào
Hoàng Cảnh chỉ chia ra 2 loại là
củ cái Ô đầu và củ con là Phụ tử.
-Hàn
Bảo Thăng thì chia củ con ra
thêm thành 4 loại (Ô uế, Thiên hùng,
Phụ tử, Trắc tử) do dược tính của chúng khác nhau. Nếu củ cái Ô đầu (ô: quạ, tựa
như đầu con quạ) chỉ sinh ra có ba củ con thì củ con đó gọi là Thiên hùng, nếu củ cái sinh ra nhiều
hơn 3 nhánh thì những củ con đó gọi là Phụ
tử. Do củ Thiên hùng có ít nhánh hơn nên được củ cái nuôi dưỡng nhiều hơn
nên có dược chất mạnh hơn Phụ tử. Ngày nay khi thu hoạch không còn phân biệt ra
làm nhiều loại nữa, cứ ngắt hết củ con ra và gọi chung là Phụ tử. Nên trong thuốc
nhập về có thể có:
+Ô
đầu: là củ cái. Tự như phụ tử, tính
nóng mà thông đạt. Tính nhẹ nhàng mà ôn cho tạng tỳ về chứng phong nên
hàn dùng.
+Ô
trác: củ con khi từ củ ô đầu mọc ra 2 nhánh con: Làm cho thổ ra phong đàm,
hóa đàm, chữa chứng điên giản co giật, là vì nó có khí
mạnh đi thẳng vào chỗ đau.
+Thiên
hùng:củ con khi có 3 nhánh con, cũng như phụ tử nhưng lớn và dài hơn: ra
các khớp lớn và cân nhục để chữa chứng
hàn, thấp, lãnh, tê. Lại đi đến các khiếu cũng như vị ô đầu, “Chữa chứng hư hàn
nên dùng phụ tử, tản phong- thấp nên dùng vị thiên hung”.
+Phụ
tử: là củ con khi chia nhiều nhánh hơn.
+Trắc
tử: nhỏ nhất: mọc ở bên củ phụ tử, đi ra được bì phu, tứ chi, tiểu tiết (khớp nhỏ) nên để chữa các chứng tê vì
phong thấp.
-Ở Việt Nam cũng có xuất hiện 1 loại cây tên
phụ tử, tuy nhiên chất lượng tốt nhất là cây mọc ở vùng đất Tứ Xuyên hay được gọi
là Xuyên Phụ tử, Xuyên Phụ. Độ độc của
phụ tử: Phụ tử TQ <Ô đầu TQ <Ô đầu VN < phụ tử VN.
B.PHỤ TỬ
I.KHÍ VỊ
-Khí
vị tân, có hơi ngọt và đắng, tính đại nhiệt, có độc nhiều. Khí thì hậu, vị thì bạc, là thuốc âm trong dương dược, giáng xuống nhiều,
thăng lên ít, trong cái nổi mà có chìm, chỗ nào cũng có thể chạy đến. Quy kinh tâm, thận, tỳ.
-Độc tính của phần hòa tan trong cồn là rất
cao so với phần hòa tan trong nước.
-Triệu chứng nhiễm độc Phụ tử thường thấy: chảy nước miếng, buồn
nôn, nôn, mồm khô, tiêu chảy, hoa mắt, chóng mặt, chân tay và mình mẩy có cảm
giác tê, mạch chậm, khó thở, chân tay co giật, bất tỉnh, tiêu tiểu mất tự chủ,
huyết áp và nhiệt độ đều hạ thấp, rối loạn nhịp tim.Trên lâm sàng dùng Atropin
liều cao để làm giảm triệu chứng, hồi phục điện tâm đồ. Trên súc vật thí
nghiệm, Lidocain làm giảm tỷ lệ tử vong do nhiễm độc Phụ tử.
-YHCT giải độc bằng: dùng Kim ngân hoa 80g,
Cam thảo 20g, Gừng tươi 20g, Đậu xanh 80g, sắc uống với đường làm giảm độc
tính.
-Sợ
Phòng Phong, Cam thảo, Nhân sâm, Hoàng kỳ, đồng tiền, Tê giác và Đậu đen.
II.CHỦ DỤNG
-Tính đại nhiệt, đại tân giúp phụ tử tuyên dương và ôn bổ chân hỏa ví như “thần hỏa
liêu nguyên” (ngọn lửa thần cháy lan đồng cỏ). Là thuốc cốt yếu để bổ mạnh vào nguyên dương
mà trừ 3 độc tà phong, hàn và thấp. Nhiệt của phụ tử thông hành dương khí 12
kinh không riêng gì thận, thấu đạt trong ngoài, nông ra biểu, sâu vào tận cốtà trừ được
quyết (tay chân lanh), tý(đau nhức), ma mộc(ngứa), câu loan(co rút), trưng hà (khối
tụ trong cơ thể), sán khí(đau bụng dưới tinh hoàn, thoát vị).
-Tuyên dương, tuyên phát dương khí: làm dương khí
được thông suốt, dẫn đạo rất nhanh. Nên bài thuốc mà muốn thông hành nhanh có thể
thêm 1 ít phụ tử mặc dù không có dương hư. Nhưng do tính tẩu nhanh mà khả năng
lắng đọng, ngấm thuốc không cao và các thuốc trừ tý thống lâu ngày thêm thuốc bổ
thận để làm sức thuốc đầm lại để thấm vào trong cơ thể hơn--> tăng thời gian
tác dụng thuốc lên cơ thể --> các thuốc ôn táo chạy qua mà ít đọng lại.
III.HỢP DỤNG
-Phụ tử rất mạnh dữ,
dùng sâm, truật để kiềm hãm và điều tiết độ mạnh đó.
-Thêm vị
Can khương thời nóng nhiều mà hồi dương, bổ trung khí.
-Uống với
vị thục địa thời làm thấm mà có công dẫn vào âm để ức chế hỏa.
-Uống với
vị cam thảo thời hoãn lại.
-Uống với nhục quế thời bổ mệnh môn.
-Uống với
bạch truật thời ôn tỳ vị trừ hàn thấp.
-Đem vị
bổ khí để giữ lấy nguyên dương, đem vị thuốc bổ huyết để giúp chân âm, đem vị
thuốc phát tán để trục tà khí, đem vị thuốc cam ôn để trừ hàn thấp. Vị này để sống
thời phát tán nhiều, mà đã chế đi thời bổ mạnh.
-Những
chứng chân âm hư mà nóng ở trong và chứng ở trong thật nhiệt ma ngoài giả hàn,
không được dùng. Phụ nữ có thai phải kiêng.
IV.BÀO CHẾ:
(1)
Diêm phụ: Ngâm nước nhiều ngày( làm hao đi tính hỏa), ngâm muối nhiều ngày
tính nóng vừa phải, tính tuyên phát các kinh cũng không quá mạnhà
tẩm nước đậu đen phơi. Ngoài ra còn có Hắc phụ phiến, bạch phụ phiến, đạm phụ
phiến,Bào phụ.
(2)
Theo Hải Thượng: Phụ tử đun chung với ít nước phòng phong, cam thảo và đậu
đen đến khi cạn thời phơi khô. Nếu là chứng giả nhiệt thời tẩm thêm nước đồng
tiện mà sao.
Tôi xét vị phủ tử là thánh dược để hồi sinh,
thế mà nhiều người tính nhát, nào tẩm, nào nướng, nào chích, rồi mới dùng, để
khí lực kém đi là lầm.
Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:
-Tác dụng cường tim rõ, tăng lực co bóp cơ tim ,tăng lưu lượng máu của động
mạch đùi và làm giảm lực cản của động mạch, làm tăng nhẹ lưu lượng máu của động
mạch vành và lực cản. Thành phần cường tim của Phụ tử là phần hòa tan nước.
-Tác dụng kháng viêm: đặc biệt trong viêm khớp.
-Tác dụng nội tiết: làm tăng tiết vỏ tuyến thượng thận và tăng chuyển hóa đường, mỡ và
protein.
-Tác dụng lên hệ thần kinh trung ương: có
tác dụng làm giảm phản xạ có điều kiện và không điều kiện và làm giảm nồng độ
ammoniac ở não.
-Thuốc có tác dụng làm tăng miễn dịch cơ thể.
So sánh phụ tử và nhục quế:
|
Phụ tử |
Nhục
quế |
|
-Hồi dương cứu thoát, trừ phong thấp (do
tính lưu hành quá mạnh mà thúc đẩy hàn tà ra ngoài), trừ tích tụ (nhờ tính
tôn tẩu mạnh). -Chân dương hư (phần dương suy) muốn bổ mạnh
thêm phụ tử (bào phụ 1 phiến). à bổ khí hỏa: Huyết: hữu
hình chi huyết do hữu hình nên không thể nhanh sinh ra được. Hỏa: vô
hình chi khí, vô hình dễ sinh dùng phụ tử để cấp. |
-Bổ tỳ, thận, tâm. Ôn trục kinh
hàn (do nó ôn ấm kinh mạch lên mà đẩy hàn tà ra), dẫn hỏa quy nguyên, chỉ
khái, cũng có thể trừ tích tụ nhưng nhờ cái tuyên hóa của nhục quế (Cũng là 1
cơ chế đẩy hàn tà ra –tiêu đốt những cái cặn bả đi). -Tinh
hàn, huyết hàn, nhục hàn (phần âm quá hàn) à quế
bổ huyết hỏa. |
Khương và phụ tử:
-Cả
2 đều ôn trung tán hàn, hồi dương cứu nghịch
-“Phụ tử chạy mà không lưu, Can khương lưu
mà không chạy”
|
Phụ tử |
Can
khương |
|
-Cứu nghịch mạnh hơn thiên về sức tán hành
dương khí toàn thân, trừ tý thống, chư hàn trên thân thể, nếu chế kỹ hoặc tẩm
nhiều đậu đen thì thiên về trung, hạ tiêu. |
-Sức cứu nghịch kém hơn, giỏi ôn trung lại
có thể ôn dương hóa đàm ở phế. |

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét